Phân tích tế bào máu – dòng hồng cầu (RBC – Red Blood Cell)
Hồng cầu trong máu có nhiệm vụ mang oxy đến tất cả các tế bào trong cơ thể. Số lượng hồng cầu biểu thị tình trạng máu của bạn trong cơ thể có thiếu hay không, cũng như các bệnh lý khác đang tồn tại trong cơ thể. Xét nghiệm công thức máu cho biết điều này và số lượng hồng cầu trong máu chính là chỉ số RBC.
1. Chỉ số hồng cầu là gì?
Hồng cầu là thành phần chiếm đa phần số lượng lớn trong tế bào máu với nhiệm vụ vận chuyển oxy từ phổi đến các mô, vận chuyển CO2 từ các mô lên đào thải ở phổi. Bởi vậy, hồng cầu đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của cơ thể hàng ngày. Khi số lượng hồng cầu hay chỉ số RBC ít hay nhiều hơn so với tiêu chuẩn đều cho thấy những dấu hiệu bất thường từ cơ thể.
Chỉ số hồng cầu thường nằm trong khoảng từ 4.2 đến 5.9 triệu tế bào/cm3, tương đương với số lượng hồng cầu được tính theo đơn vị quốc tế là 4.2 đến 5.9×1012 tế bào/l. Giá trị chuẩn của chỉ số RBC ở trẻ sơ sinh là 3.8 M/μl, với nữ giới là 3.9 – 5.6 M(million) /μl, còn với nam giới là 4.5 – 6.5 M/μl.
2. Ý nghĩa của chỉ số hồng cầu

Trường hợp chỉ số RBC tăng
Khi số lượng hồng cầu vượt mức trên hay nói cách khác là chỉ số RBC cao hơn thường xảy ra không nhiều, hồng cầu tăng số lượng có thể dẫn đến cô đặc máu trong trường hợp bị mất nước, nôn nhiều, đi ngoài hay bị bệnh đa hồng cầu thực. Ngoài ra, số lượng hồng cầu tăng còn có thể dẫn đến một số bệnh như gây rối loạn tuần hoàn tim, phổi như bệnh tim bẩm sinh, hẹp động mạch phổi hay tình trạng thiếu oxy. Những người sống ở vùng núi cao hoặc vận động viên sử dụng doping thường có chỉ số hồng cầu tăng so với bình thường.
Trường hợp chỉ số RBC giảm
Trong trường hợp chỉ số RBC giảm so với mức chuẩn có thể là biểu hiện tình trạng thiếu máu, mất máu nguyên nhân do chảy máu tiêu hóa ở dạ dày hoặc tá tràng. Một số chẩn đoán cho thấy tình trạng ít hồng cầu là máu bị thiếu sắt, axit folic hay vitamin B12. Nhiều trường hợp số lượng hồng cầu giảm ho bị hủy hoại bởi các tác động của một nhân tố đồng thời nào đó. Ở phụ nữ mang thai, người già, bệnh nhân bị suy tủy, thấp khớp cấp, thận, ung thư thường có dấu hiệu chỉ số RBC giảm dưới mức chuẩn.
3. Các chỉ số đánh giá hồng cầu quan trọng khác
Bên cạnh đó, để đánh giá hồng cầu, trong xét nghiệm tổng phân tích máu, còn có thể dùng các chỉ số MCV (3) và MCH (4), MCHC (5), RDW(6). Trong đó MCV để đánh giá kích thước hồng cầu lớn, nhỏ hay bình thường, còn MCH đánh giá màu sắc hồng cầu đậm, nhạt hay bình thường. Nếu chỉ số MCV, MCH thấp hơn bình thường, người bệnh có thể được chẩn đoán bệnh hồng cầu nhỏ, thường gặp trong người thiếu chất sắt, người mang gen Thalessemia… Ngược lại nếu MCV, MCH cao hơn bình thường nghĩa là hồng cầu to có thể chẩn đoán có bệnh lý về gan, nghiện rượu bia, thiếu vitamin B12, thiếu axit folic…

Ngoài ra trong xét nghiệm tổng phân tích máu, chúng ta có thể biết thêm một số ý nghĩa của các chỉ số quan trọng như hemoglobin (HGB) (1), hematocrit (HCT) (2)… Đây là các chỉ số có ý nghĩa quan trọng, HBG thể hiện lượng huyết sắc tố có trong máu, là chất đạm có trong hồng cầu. Chất này cho phép vận chuyển O2 từ phổi đến tế bào và vận chuyển CO2 từ tế về phổi. Khi HGB dưới mức chuẩn là biểu hiện để chẩn đoán thiếu máu. Trong khi đó HCT cho biết thể tích máu, hồng cầu chiếm bao nhiêu phần trăm. Chỉ số HCT vượt mức là biểu hiện của tình trạng thiếu nước hoặc có thể bạn bị mắc một loại ung thư nào đó. Để xác định chuẩn thì bạn cần được làm các xét nghiệm chuyên sâu để chẩn đoán chính xác hơn.
Xét nghiệm tổng phân tích máu là xét nghiệm thường quy nên được thực hiện thường xuyên để có thể biết tổng quát tình trạng sức khỏe, cũng như phát hiện sớm các bệnh. Sau khi phát hiện các bất thường trong các chỉ số máu, các xét nghiệm chuyên sâu, cũng như các phương pháp cận lâm sàng sẽ được chỉ định để xác chính xác tình trạng bệnh. Bởi vậy xét nghiệm tổng quát máu định kỳ là điều không thể thiếu để đảm bảo sức khỏe ổn định.
vinmec.com
(1)
Chỉ số HgB là viết tắt của hemoglobin – một loại phân tử protein có trong hồng cầu, có nhiệm vụ vận chuyển oxy và tạo sắc tố đỏ cho hồng cầu.
Giá trị của chỉ số HgB thay đổi tùy theo giới tính:
- Nam: 13 – 16g/dl.
- Nữ: 12.5 – 14.2g/dl.
Chỉ số HgB tăng khi bị mất nước, mắc các bệnh tim và phổi; giảm khi bị thiếu máu, chảy máu và các phản ứng gây tan máu khác.
Chỉ số HgB là một trong ba chỉ số dùng để chẩn đoán tình trạng thiếu máu, đó là: RBC – Red Blood Cell cho biết số lượng hồng cầu, HCT – Hematocrite cho biết dung tích hồng cầu và HGB – Hemoglobin cho biết lượng huyết sắc tố. Nếu hai trong ba chỉ số trên thấp hơn so với bình thường thì được chẩn đoán là thiếu máu. Ngoài ra theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), dựa vào chỉ số HgB có thể chẩn đoán thiếu máu nếu:
- Nam: Chỉ số HgB < 13 g/dl (130 g/l);
- Nữ: Chỉ số HgB < 12 g/dl (120 g/l);
- Người lớn tuổi, phụ nữ đang mang thai, trẻ em: Chỉ số HgB < 11 g/dl (110 g/l).
Trên lâm sàng, chỉ số HgB dùng để đánh giá tình trạng bệnh nhân có cần truyền máu hay không:
- Chỉ số HgB > 10g/dl: Bị thiếu máu nhẹ và không cần truyền máu;
- Chỉ số HgB 8 – 10g/dl: Bị thiếu máu vừa và cân nhắc nhu cầu truyền máu;
- Chỉ số HgB 6 – 8 g/dl: Bị thiếu máu nặng và cần truyền máu;
- Chỉ số HgB < 6g/dl: Truyền máu cấp cứu.
Triệu chứng bệnh Thiếu máu
Bệnh nhân thiếu máu thường có những biểu hiện sau:
- Da và niêm mạc xanh xao, nhợt nhạt.
- Ù tai, hoa mắt, chóng mặt.
- Chán ăn, rối loạn tiêu hóa.
- Mệt mỏi, hồi hộp, nhịp tim nhanh.
- Nếu là phụ nữ sẽ có thể gặp tình trạng rối loạn kinh nguyệt hoặc vô kinh.
Đối tượng nguy cơ bệnh Thiếu máu
Các yếu tố nguy cơ của hiện tượng thiếu máu là:
- Chế độ dinh dưỡng không đầy đủ, thiếu sắt, vitamin B12, folate.
- Rối loạn đường ruột: tình trạng này dẫn đến sự hấp thu kém các chất dinh dưỡng trong ruột non gây nên thiếu máu.
- Phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt có thể gây ra thiếu hồng cầu, dẫn đến tình trạng thiếu máu.
- Phụ nữ trong quá trình mang thai có nguy cơ thiếu máu thiếu sắt do lượng sắt phải được dự trữ cho khối lượng máu tăng lên để cung cấp hemoglobin cho bào thai.
- Bệnh nhân mắc các bệnh mãn tính như ung thư, suy thận, suy gan cũng là nguy cơ của thiếu máu.
- Tiền sử gia đình mắc các bệnh máu di truyền cũng là nguy cơ gây nên tình trạng thiếu máu.
Những yếu tố khác như tiền sử nhiễm trùng, bệnh về máu, rối loạn tự miễn, nghiện rượu , hóa chất độc hại và sử dụng thuốc cũng ảnh hưởng đến sự sản xuất hồng cầu, gây hiện tượng thiếu máu trên bệnh nhân.
Phòng ngừa bệnh Thiếu máu
Để phòng ngừa tình trạng thiếu máu, chúng ta nên:
- Ăn uống hợp vệ sinh và khoa học. Khẩu phần ăn phải có đầy đủ các chất, hợp khẩu vị, hạn chế các gia vị nhân tạo, hương liệu và dầu mỡ.
- Chế độ sinh hoạt làm việc cân đối kết hợp rèn luyện nâng cao sức khỏe.
- Phụ nữ cần lưu ý đến chu kỳ kinh nguyệt của mình, bổ sung thêm sắt uống và ăn nhiều thức ăn có chứa nhiều sắt khi cơ thể thiếu sắt.
- Lắng nghe cơ thể và phát hiện kịp thời các dấu hiệu nghi ngờ thiếu máu cũng như các yếu tố nguy cơ thiếu máu.
- Khám sức khỏe ít nhất 1 lần/năm để phát hiện bệnh sớm nhất có thể.
Các biện pháp chẩn đoán bệnh Thiếu máu
Về lâm sàng, chẩn đoán thiếu máu dựa trên các dấu hiệu sau:
- Da xanh xao, niêm mạc nhợt nhạt
- Ù tai, hoa mắt, chóng mặt, ngất xỉu
- Chán ăn, rối loạn tiêu hóa
- Hồi hộp, dễ mệt mỏi, nhịp tim đập nhanh
- Phụ nữ có thể vô kinh
Về cận lâm sàng, chẩn đoán thiếu máu dựa vào các kết quả công thức máu, hàm lượng acid folic/hàm lượng ferritin/tủy
Công thức máu: Dựa vào nồng độ Hemoglobin trong máu như sau:
- Thấp hơn 13g/dl (130 g/l) đối với nam giới.
- Thấp hơn 12g/dl (120 g/l) đối với nữ giới.
- Thấp hơn 11 g/dl (110g/l) đối với người lớn tuổi.
Hàm lượng Ferritin giảm
Hàm lượng Acid folic hoặc vitamin B12 giảm
Tủy giảm sinh
Các biện pháp điều trị bệnh Thiếu máu
Các phương pháp điều trị thiếu máu phải tùy vào nguyên nhân thiếu máu, có thể có những biện pháp sau đây:
- Truyền máu
- Sử dụng corticosteroid, các thuốc ức chế hệ miễn dịch.
- Sử dụng erythropoietin giúp tủy xương tạo được nhiều tế bào máu hơn.
- Bổ sung sắt, vitamin B12, acid folic và các loại vitamin, khoáng chất khác.
(2) HCT – Hematocrit
HCT là một xét nghiệm đơn giản thường được thực hiện cùng với các xét nghiệm khác theo chỉ định của bác sĩ giúp chẩn đoán bạn có bị mắc rối loạn máu, tủy xương, thiếu dinh dưỡng dưỡng hay các vấn đề sức khỏe khác hay không. Trong bài viết này sẽ giúp bạn hiểu hơn về chỉ số HCT trong xét nghiệm máu là gì cũng như mục đích của việc kiểm tra này.
HCT (Hematocrit) là chỉ số các tế bào hồng cầu trong máu, cho biết cơ thể bạn có quá nhiều hay quá ít tế bào hồng cầu, kết quả này được dùng để chẩn đoán một số bệnh lý về hồng cầu.
Chỉ số HCT rất quan trọng vì các tế bào hồng cầu rất cần thiết cho sự sống còn của bạn. Chúng chứa một thành phần protein quan trọng gọi là hemoglobin liên kết với oxy, cung cấp năng lượng cho tất cả các tế bào trong cơ thể.

Chỉ số HCT rất quan trọng trong việc đánh giá tình trạng thiếu máu
Khi các tế bào hồng cầu đi qua phổi, chúng sẽ liên kết và vận chuyển oxy đến các tế bào khác trong cơ thể. Khi trở lại phổi, chúng mang theo cacbonic để thở ra bên ngoài. Chỉ số HCT được coi là một phép đo quan trọng giúp xác định cơ thể có đủ tế bào hồng cầu để vận chuyển và phân phối khí oxy hay không. Nếu bác sĩ nghi ngờ bạn bị rối loạn máu như thiếu máu hoặc đa hồng cầu (quá nhiều hồng cầu), bác sĩ có thể yêu cầu xét nghiệm HCT để kiểm tra hồng cầu của bạn.
Thông thường các bác sĩ yêu cầu làm xét nghiệm chỉ số HCT để kiểm tra tình trạng máu – một chứng rối loạn máu liên quan đến số lượng tế bào hồng cầu thấp khiến cơ thể mệt mỏi, đau đầu và chóng mặt. Xét nghiệm này có thể được sử dụng để sàng lọc bệnh đa hồng cầu.
Nếu bạn đang điều trị ung thư, HCT là một trong số xét nghiệm thường quy được sử dụng để kiểm tra xem cơ thể có đáp ứng với thuốc hay không? Từ đó có những điều chỉnh hợp lý, mang lại hiệu quả điều trị cao nhất.
Do sự khác biệt về tuổi và giới tính, chỉ số HCT bình thường cũng sẽ khác nhau. Kết quả Hematocrit được báo cáo dưới dạng phần trăm. Phép đo hematocrit trung bình ở người là 45%, có nghĩa là thể tích hồng cầu chứa 45ml trên 100ml máu.
Chỉ số HCT bình thường của một người có sức khỏe tốt sẽ nằm trong khoảng sau:
Nam giới: từ 41% – 50%
Nữ giới: từ 36% – 44%
Trẻ sơ sinh: 45% đến 61%
Trẻ em: 32% đến 42%

Chỉ số HCT bình thường tùy thuộc vào độ tuổi và giới tính
Để thực hiện xét nghiệm chỉ số HCT trong máu, bệnh nhân sẽ được lấy một lượng máu nhỏ vào trong ống dẫn nhỏ. Sau đó, các kỹ thuật viên dùng máy chuyên dụng để đo chỉ số HCT. Một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm chỉ số HCT, thậm chí có thể mang lại kết quả không chính xác bao gồm: thai kỳ, tình trạng cơ thể mất nước, mất máu…
Xét nghiệm hematocrit chỉ cung cấp một phần thông tin về sức khỏe của bạn. Do đó, bạn hãy nói chuyện với bác sĩ của bạn về ý nghĩa của kết quả xét nghiệm chỉ số hematocrit dựa trên các triệu chứng bạn đang gặp phải. Do đó, việc tìm một địa chỉ uy tín để làm xét nghiệm cũng rất cần thiết giúp bạn nhanh chóng có được kết quả chính xác cũng như những lời khuyên hữu ích về một phác đồ điều trị bệnh phù hợp nhất.
Nếu chỉ số HCT cao tức là tỷ lệ phần trăm tế bào hồng cầu trong máu tăng cao có thể do các nguyên nhân sau: khó thở khi ngủ, bệnh tủy xương, bệnh tim, hút thuốc lá, ngộ độc carbon monoxide, sử dụng testosterone…
Nếu chỉ số HCT thấp chính là dấu hiệu của tình trạng thiếu máu khi lượng hồng cầu trong máu thấp hơn bình thường. Nguyên nhân khiến chỉ số HCT thấp có thể do mất máu, các vấn đề về xương, thiết sắt, vitamin ( folate, vitamin B12 và vitamin B6), có quá nhiều nước trong cơ thể…

Lấy máu tĩnh mạch làm xét nghiệm chỉ số HCT
Làm thế nào để tăng chỉ số HCT?
Trong một số trường hợp, chỉ số hematocrit thấp là do lượng sắt thấp. Bạn có thể ăn thực phẩm giàu chất sắt và bổ sung vitamin hàng ngày để giúp ngăn ngừa nguyên nhân hematocrit thấp. Ngoài ra, bạn có thể bổ sung nguồn thực phẩm giàu chất sắt vào các bữa ăn bao gồm:
Các loại thịt đỏ.
Gan bò.
Gan gà.
Cá và động vật có vỏ.
Các sản phẩm từ đậu nành (đậu phụ và đậu phụ).
Hoa quả sấy khô.
Các loại rau lá xanh.
Quả hạch.
Đậu.
Bánh mì và ngũ cốc tăng cường chất sắt.
Trứng.

Bổ sung cho cơ thể những bữa ăn giàu chất sắt
Vitamin C giúp hấp thụ sắt tốt hơn. Do đó, bạn cũng nên ăn nhiều loại thực phẩm giàu vitamin C, chẳng hạn như trái cây họ cam quýt. Cần lưu ý không uống cà phê hoặc trà trong bữa ăn của bạn vì điều này làm giảm sự hấp thụ sắt.
(3) Mean Corpuscular Volume (MCV)
Chỉ số mcv trong xét nghiệm máu nói lên điều gì? Đây là một trong những vấn đề được rất nhiều người muốn tìm hiểu. Mean Corpuscular Volume (MCV) nghĩa là khối lượng phân tử trung bình của hồng cầu có trong máu.
Vốn dĩ phải thực hiện xét nghiệm này là vì trong hồng cầu chứa nhiều huyết sắc tố tạo màu đỏ cho máu. Ngoài ra, tế bào hồng cầu còn đảm nhiệm vai trò chuyển oxy đi từ phổi đến các mô và ngược lại nhận CO2 từ mô ra phổi. Nếu hồng cầu có kích thước to, nhỏ cũng làm cho máu bị ảnh hưởng và biểu hiện rõ nhất ở sức khỏe của chúng ta.
Một người bình thường có thể tích trung bình của hồng cầu nằm ở mức từ 80 -100 femtoliter/lít (1 femtoliter = 1/1 triệu lít).
- Nếu MCV lớn hơn 100 femtoliter: Lúc này cho thấy hồng cầu của bạn có kích thước lớn và bị phì ra. Điều này chứng tỏ cơ thể đang bị thiếu máu. Nguyên nhân là do thiếu axit folic hay B12. Để khắc phục tình trạng này, bác sĩ sẽ có phương pháp điều trị hợp lý để cân bằng lại chỉ số này.
- Nếu MCV thấp dưới 80 femtoliter: Bạn cầm trên tay kết quả xét nghiệm và nhận được kết luận MCV<80, chứng tỏ bạn đang bị thiếu sắt. Trường hợp khác có thể bạn bị hội chứng tan máu bẩm sinh. Khi chỉ số này xuống đến mức quá thấp lý do thường xuất phát từ những người bị bệnh mãn tính, nhiễm độc từ chì, thiếu máu hồng cầu,… Thông thường ở người mang thai thường có chỉ số MCV thấp hơn so với những người bình thường. Vì vậy, để đảm bảo cho sức khỏe cả mẹ và sự phát triển toàn diện cho thai nhi, người mẹ nên cung cấp lượng sắt hợp lý cho cơ thể.

Huyết sắc tố là một loại protein đảm nhiệm chức năng tạo điều kiện cho hồng cầu vận chuyển oxy tới các tế bào và các mô bên trong cơ thể. Chỉ số MCH được xác định thông qua xét nghiệm máu CBC.
Khi xét nghiệm, chỉ số MCH bình thường nếu dao động ở mức 27 – 33 picogram (pg) trên mỗi tế bào. Chỉ số MCH thấp nếu nhỏ hơn 26 pg/tế bào và cao nếu ở mức lớn hơn 34 pg/tế bào.

Trước khi xét nghiệm chỉ số MCH, người bệnh cần tuân thủ những quy định sau:
- Không uống bất kỳ loại thuốc nào trước khi thực hiện xét nghiệm máu. Trường hợp bệnh nhân lỡ uống thuốc thì cần thông báo với bác sĩ để có hướng xử lý phù hợp;
- Nhịn ăn: Khi xét nghiệm MCH cùng với các xét nghiệm khác để chẩn đoán bệnh về gan mật, mỡ máu, đường huyết,… thì bệnh nhân cần nhịn ăn trong 8 – 12 tiếng. Khi xét nghiệm cường giáp hoặc HIV hay các bệnh lý khác thì người bệnh không cần nhịn ăn;
- Trước khi xét nghiệm, người bệnh không sử dụng các chất kích thích như rượu, bia, cà phê, thuốc lá,…
Chỉ số MCH dưới 26 pg/tế bào cảnh báo tình trạng thiếu sắt trong máu. Sắt có vai trò tạo ra huyết sắc tố. Khi cơ thể thiếu chất sắt, chỉ số MCH trong máu sẽ thấp. Tình trạng này thường xảy ra ở người bị thiếu dinh dưỡng hoặc đang thực hiện một chế độ ăn chay.
Ngoài ra, nguyên nhân dẫn tới tình trạng chỉ số MCH thấp còn là do kinh nguyệt kéo dài ở phụ nữ, phẫu thuật dạ dày, bệnh Celiac,… Những bệnh lý này khiến cơ thể người bệnh mất sắt hay thiếu sắt do không hấp thu sắt đầy đủ. Bên cạnh đó, khi cơ thể bị thiếu một số vitamin quan trọng như vitamin B thì chỉ số MCH cũng có thể xuống thấp.
Ở những người có chỉ số MCH thấp, hầu như họ không có bất kỳ biểu hiện nào trong giai đoạn đầu. Khi tình trạng bệnh trở nên nặng hơn, chỉ số giảm xuống quá thấp thì người bệnh mới có những biểu hiện như: Khó thở, mệt mỏi, chóng mặt, da nhợt nhạt, bầm tím,…

Với trường hợp chỉ số MCH cao trên 34 pg/tế bào thì người bệnh có nguy cơ mắc bệnh thiếu máu ác tính. Tình trạng này xảy ra khi cơ thể không có đủ lượng axit folic hoặc vitamin B12. Người có chỉ số MCH tăng cao thường mắc phải các tình trạng sau:
- Bệnh lý ở gan;
- Tuyến giáp hoạt động quá mức;
- Uống nhiều thuốc chứa estrogen;
- Lạm dụng rượu bia;
- Biến chứng của bệnh ung thư, nhiễm trùng.
Biểu hiện của người có chỉ số MCH cao là: tim đập nhanh, mất tập trung, giảm trí nhớ, mệt mỏi, móng tay hoặc móng chân bị nứt gãy, giảm cân, có vấn đề về tiêu hóa, da nhợt nhạt,…
2.5 Làm thế nào để đảm bảo cân bằng chỉ số MCH?
Trường hợp có những biểu hiện cảnh báo mức MCH thấp hoặc cao, người bệnh nên đi tới các cơ sở y tế để thực hiện xét nghiệm. Từ đó, bác sĩ có thể tìm ra nguyên nhân gây ra bất thường này và đưa ra chỉ định điều trị phù hợp.
- Chỉ số MCH ở mức thấp do bệnh thiếu sắt: Người bệnh có thể điều chỉnh chỉ số này về mức cân bằng nếu thay đổi chế độ ăn uống theo hướng dẫn của bác sĩ. Nếu cơ thể xuất hiện những biểu hiện trầm trọng như khó thở, chóng mặt, da nhợt nhạt thì cần tới cơ sở y tế để điều trị;
- Chỉ số MCH ở mức cao: Là tình trạng khá nguy hiểm, cần được điều trị ngay sau khi phát hiện.
(5) MCHC – Mean Corpuscular Hemoglobin Concentration
MCHC (nồng độ hemoglobin tiểu thể trung bình) là nồng độ hemoglobin trung bình hoặc hàm lượng hemoglobin trên một đơn vị thể tích (trọng lượng / thể tích hoặc g / dL) trong hồng cầu (RBC). Ngoài ra, nó có thể được coi là tỷ lệ phần trăm hồng cầu bao gồm hemoglobin. Nó là một giá trị được tính toán, thu được bằng cách chia hemoglobin, được đo bằng quang phổ sau khi ly giải RBC trong thiết bị, cho khối lượng RBC được xác định bởi HCT hoặc PCV.
Vì MCHC được thực hiện như một phần của CBC, thử nghiệm được thực hiện bất kỳ lúc nào CBC được yêu cầu. Ví dụ, điều này có thể bao gồm khám sức khỏe định kỳ hoặc trong quá trình chẩn đoán, điều trị và theo dõi một loạt các tình trạng y tế.
Các lý do bác sĩ có thể xem xét cụ thể MCHC bao gồm:
- Khi có các triệu chứng thiếu máu, chẳng hạn như mệt mỏi, da nhợt nhạt hoặc choáng váng.
- Khi tìm kiếm các nguyên nhân khác nhau của bệnh thiếu máu (khi số lượng hồng cầu hoặc nồng độ hemoglobin của một người thấp)

MCHC thấp (giảm sắc tố) có nghĩa là có nồng độ hemoglobin thấp hơn trong một thể tích nhất định của tế bào hồng cầu, và do đó, khả năng vận chuyển oxy đến các mô bị giảm.
MCHC bình thường (hay nhiễm sắc tố) hoặc cao (tăng sắc tố) có nghĩa là khả năng vận chuyển oxy của các tế bào hồng cầu là bình thường. Tuy nhiên, nó vẫn có thể bị thiếu nếu không có đủ hồng cầu.
Một số yếu tố hạn chế làm ảnh hưởng đến việc đọc chỉ số MCHC gồm những yếu tố dưới đây:
- Sau truyền máu: Vì máu được lấy ra sau khi truyền máu sẽ là hỗn hợp của các tế bào được hiến tặng cộng với các tế bào hồng cầu bình thường của một người.
- Thiếu máu kết hợp: Nếu một người có hai loại thiếu máu khác nhau dẫn đến các mức MCHC khác nhau, thì việc đọc sẽ không hữu ích trong việc chẩn đoán loại thiếu máu. Ví dụ, MCHC có thể bình thường nếu một người có sự kết hợp của thiếu máu do thiếu sắt (gây ra MCHC thấp) và bệnh tăng sinh sphero (có xu hướng gây ra MCHC cao).
- Điều kiện Làm cho Hemoglobin hoặc Hematocrit không chính xác:
+ Vì chỉ số MCHC tính bằng cách là sử dụng nồng độ hematocrit và hemoglobin. Khi chỉ số này tăng hoặc giảm hoặc không đúng sẽ làm cho kết quả MCHC bị sai lệch.
+ Ví dụ, tăng lipid máu (tăng mức cholesterol hoặc triglycerid), tăng bilirubin trong máu (tăng bilirubin trong máu, cũng như bệnh gan).
+ Quá trình phân hủy tế bào hồng cầu (hay còn gọi là quá trình tan huyết) thì trong tế bào hồng cầu bị vỡ còn sót lại các hemoglobin tự do trong huyết tương sẽ cho kết quả một cách bất thường có nghĩa là chỉ số MCHC bị tăng cao.
Khi MCHC thấp (trừ khi kết quả không chính xác do một trong những hạn chế đã nêu trước đó), điều đó có nghĩa là các tế bào hồng cầu không có đủ hemoglobin. Các nguyên nhân có thể bao gồm:
- Cơ thể thiếu sắt
- Nhiễm độc chì
- Thể thalassemia alpha, beta
- Thiếu máu nguyên bào bên
- Bị thiếu máu của các bệnh mãn tính
MCHC thấp không thiếu máu có liên quan đến kết quả kém ở những người được chăm sóc đặc biệt.
Nó cũng có thể chỉ ra tình trạng thiếu sắt trước khi bệnh thiếu máu phát triển.

Khi chỉ số MCHC cao cho biết nồng độ hemoglobin đặc hơn mức bình thường. Ví dụ khi các tế bào hồng cầu bị phá vỡ thì hemoglobin sẽ cô đặc hơn. Ở những người hay hút thuốc lá thì chỉ số này thường tăng nên.
Các nguyên nhân tiềm ẩn của MCHC cao kèm theo thiếu máu bao gồm:
- Do hút thuốc lá, cơ thể tự miễn dịch…những nguyên nhân này dẫn đến thiếu máu tan máu tự miễn.
- Vết bỏng nặng
- Bệnh gan
- Cường giáp.
- Bệnh hồng cầu lưỡi liềm (đồng hợp tử)
- Bệnh Hemoglobin
Ví dụ, MCHC thấp và MCV thấp có thể chỉ ra bệnh thiếu máu do thiếu sắt, bệnh thalassemia, thiếu máu nguyên bào phụ hoặc ngộ độc chì. MCHC cao và MCV thấp có thể là dấu hiệu của bệnh tế bào hình cầu hoặc bệnh hồng cầu hình liềm.
(6) Chỉ số RDW – Red cell Distribution With
RDW là viết tắt của cụm từ tiếng anh Red cell Distribution With có nghĩa là độ phân bố hồng cầu.
Xét nghiệm RDW để xét nghiệm, kiểm tra sự thay đổi của kích thước và hình dạng tế bào hồng cầu.
ở người bình thường, chỉ số RDW trong xét nghiệm máu có giá trị nằm trong khoảng từ 9 – 15%.
Nếu tế bào máu RDW thấp hơn hay cao hơn so với khoảng từ 9-15% phản ánh cơ thể đang có những vấn đề.
RDW có giá trị càng cao thì độ phân bố của hồng cầu thay đổi càng nhiều.
Trong tế bào máu RDW có 2 loại là RDW-SD và RDW-CV, trong đó:
RDW-SD để cho ra thông số thể tích thực
RDW-CV cho ra giá trị %.
Dải giá trị tham chiếu của 2 thông số:
RDW-SD: 29-46 fL
RDW-CV: 11.6 – 14.6% (đối với người lớn)
Mối quan hệ giữa kích thước hồng cầu MCV và tế bào máu RDW có ảnh hưởng tới cơ thể thế nào?

MVC có nghĩa là thể tích tiểu thể trung bình thể hiện kích thước trung bình của tế bào hồng cầu. Dựa vào chỉ số RDW và MCV bác sỹ có thể chẩn đoán bất thường trong cơ thể.
Ở người bình thường, kích thước trung bình của tế bào hồng cầu MCV thường từ 80 – 96 fL.
Khi xét nghiệm máu nếu chỉ số RDW trong xét nghiệm máu bình thường nhưng MCV không nằm trong khoảng cho phép, có thể nói lên người bệnh có các vấn đề về sức khỏe.
- Độ phân bố hồng cầu RDW bình thường và MCV thấp
Người bệnh có thể bị thiếu máu mãn tính, có halassemia thể dị hợp tử, hoặc thể hemoglobin E.
- RDW bình thường và MCV cao:
Bệnh nhân có thể bị bệnh gan mạn tính hoặc bị thiếu máu bất sản. Nguyên nhân có thể do bệnh nhân đang sử dụng thuốc kháng virus, sử dụng nhiều chất có cồn như rượu, hoặc đang hóa trị.
- RDW cao và MCV thấp
Chẩn đoán ban đầu bệnh nhân có thể bị thiếu máu thể hồng cầu lưỡi liềm, thiếu máu do thiếu chất sắt.
- RDW cao và MCV cao
Nếu cả hai thông số RDW và MCV đều cao, người bệnh có thể bị thiếu máu huyết tán miễn dịch, bị hội chứng loạn sản tủy, thiếu folate, hoặc thiếu vitamin B12 mức trầm trọng. Bị bệnh gan hoặc đang hóa trị.
- RDW cao, MCV bình thường
Chỉ số xét nghiệm nếu RDW cao mà MCV bình thường có nhiều khả năng người bệnh bị mắc bệnh hồng cầu lưỡi liềm, gan mạn tính hay hội chứng loạn sản tủy. Các vấn đề khác có thể là giai đoạn sớm của thiếu folate, vitamin B12. Cũng có thể là bệnh nhân bị thiếu máu lưỡng hình.
- RDW bình thường và MCV bình thường
Nếu kết quả xét nghiệm máu có RDW bình thường và MCV cũng bình thường thì cũng chưa chắc đã là ổn bởi cả hai chỉ số này đều bình thường thì vẫn có khả năng người bệnh bị thiếu máu mãn tính, thiếu máu do mắc bệnh thận. Vì vậy cần nhìn vào các chỉ số máu khác để đánh giá 1 cách chính xác nhất.
